Nhớ lại những năm đầu thành lập trường
Lời ban biên tập:
Chuẩn bị cho lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập trường 10/2011; để ôn lại truyền thống và lịch sử phát triển của nhà trường trong quãng thời gian nửa thế kỷ đó, BBT phối hợp với các thầy giáo Lê Nguyên Quang và thầy Trần Văn Thái nguyên là giáo viên của trường đã gặp mặt, trao đổi với các thầy giáo là cựu hiệu trưởng và các thầy giáo, cô giáo cùng một số anh chị học sinh cũ của trường. Chúng tôi sẽ lần lượt đăng lên trang Website của trường các bài viết, bài phỏng vấn để các quý vị cùng xem
Nhớ lại những năm đầu thành lập trường
Tâm sự của thầy Nguyễn Văn Bào
Nguyên hiệu trưởng đầu tiên của trường cấp 3 Nghĩa Lộ - Giai đoạn 1962-1969
Cơ duyên nào đã đưa thầy lên công tác ở Tây Bắc?
Tôi lên Tây Bắc năm 1960.
Trước đó tôi đang dạy học ở Hà Nội, hè 1960 Bộ GD chọn một số giáo viên cấp 2 học lớp bồi dưỡng chuyên môn để dạy lớp 8 (lớp đầu của bậc THPT), cuối khóa học Vụ Tổ chức của Bộ GD thông báo trên tỉnh Sơn La có thiếu 1 giáo viên toán, 1 giáo viên văn và 1 giáo viên Vật lý. Tôi đã xung phong lên Sơn La (lúc đó thuộc Khu tự trị Thái Mèo). Lên đến Sơn La tôi được phân công về dạy toán ở trường Bổ túc văn hóa thanh niên các dân tộc của Khu học xá Mường La. Trong 2 năm dạy ở đây tôi được bầu làm bí thư đoàn Khu học xá Mường La, là chi ủy viên chi bộ trường BT VH thanh niên các dân tộc. Đến tháng 9/1962 Sở GD bổ nhiệm tôi về làm hiệu trưởng trường cấp 3 Nghĩa Lộ- Châu Văn Chấn- Khu tự trị Thái Mèo ( đến tháng 10/1962 đổi tên là Khu tự trị Tây Bắc).
Thầy nói kỹ hơn một chút về tình hình trường cấp 3 Nghĩa Lộ lúc đó?
Trường này vốn là trường cấp 1+2 của thị trấn Nghĩa Lộ thuộc Châu Văn Chấn- Khu tự trị Thái Mèo. Đến năm học 1961-1962 trường có 1 lớp 8, lúc đó gọi là trường cấp 1+2 nhô do thầy Phạm Tế Xuyên làm hiệu trưởng. Tới tháng 9/1962 có 1 lớp 9 thì Sở GD thành lập trường cấp 3 Nghĩa Lộ- Châu Văn Chấn, tôi được cử làm hiệu trưởng. Lúc đó là trường Liên cấp 1+2+3 có đủ 4 lớp cấp 1, 3 lớp cấp 2 và 2 lớp cấp 3; mỗi khối lớp chỉ có 1 lớp. Trường đóng tại khu vực trước mặt là sân thể dục thể thao của thị trấn (bây giờ là khu Sân vận động thị xã Nghĩa Lộ). Các lớp học và nhà ở của giáo viên chỉ lợp gianh, vách đất. Học sinh khóa 1 của trường Cấp 3 nghĩa Lộ hiện nay đang sinh sống tại thị xã Nghĩa Lộ có các Anh Phí Như Lộc, Hoàng Hữu Khương; Bùi Đức Tự,…Nhiều học sinh đi bộ đội và có người là liệt sỹ. Các học sinh thời đó phải chịu đựng cuộc sống rất khó khăn vất vả nhưng rất chăm học, sau này phần lớn đạt được những thành tích tốt như cô Đinh thị Kim Xuyến (HS khóa 4) bây giờ là PGS-TS thầy thuốc nhân dân, công tác ở cục vệ sinh dịch tễ; các anh Trịnh Khắc Thẩm- nay là phó hiệu trưởng trường ĐH Lao động-xã hội,..vv.
Tháng 10/1962 thành lập tỉnh Nghĩa Lộ. Tới năm học 1963-1964 lúc đó là trường cấp 2+3 Nghĩa Lộ, cắt cấp 1 thành một trường riêng.
Tới năm học 1965-1966, do chiến tranh phá hoại Miền Bắc của giặc Mỹ leo thang đánh phá ác liệt, Nghĩa Lộ đã bị Mỹ ném bom. Khối cấp 3 của nhà trường phải sơ tán ra vùng ngoài (xã Chấn Thịnh); khối cấp 2 ở lại học ở các trường cấp 2 trong vùng đồng bằng Mường Lò.
Hè 1965, thầy và trò nhà trường đã di chuyển ra vùng sơ tán, chủ yếu là đi bộ. Các tài sản của nhà trường mà phần lớn là các thiết bị dạy học cũng được thày và trò khênh vác đi bộ mang tới vùng sơ tán để tiếp tục dạy- học. Năm học 1965-1966 chỉ còn khối cấp 3.
Thầy làm Hiệu trưởng bao nhiêu năm và sau đó chuyển giao cho ai?
Tôi làm hiệu trưởng trường cấp 3 Nghĩa Lộ từ năm học 1962-1963, tới năm hè 1969 tôi được bổ nhiệm là Phó trưởng ty GD Nghĩa Lộ, kiêm hiệu trưởng trường sư phạm bồi dưỡng Đồng Khê.
Kế nhiệm tiếp tôi là Thầy Nguyễn Hữu Thảo. làm hiệu trưởng từ năm học 1969-1970.
Trong khoảng thời gian này thầy có nhiều những kỷ niệm sâu sắc với học sinh và giáo viên nhà trường?
Chúng tôi đã cùng học sinh đặc biệt là học sinh vùng ngoài lên rừng chặt cây, cắt gianh để dựng lớp học, nhà nội trú.
Khi sơ tán ra Chấn Thịnh trường chỉ có 3 lớp với hơn 100 học sinh. Năm học đầu ở nơi sơ tán (năm học 1965-1966), nhà trường tập trung lực lượng để dựng nhà làm lớp học, chỗ ở chưa có, thầy và trò ở trọ trong các nhà dân xung quanh trường (ở Thôn Cao). Các học sinh đều lần đầu xa nhà, xa bố mẹ, tự lập tự lo cho cuộc sống và học tập. Vì vậy, nhà trường phải gánh lấy trách nhiệm vừa tiếp tục giảng dạy vừa chăm lo quản lý học sinh. Dạo đó nhà trường đã có thống nhất điều hành giờ tự học của học sinh bằng hiệu lệnh- gõ mõ, từ tiếng mõ của nhà trường, học sinh ở gần đó tiếp tục gõ báo giờ tự học, cứ thế hiệu lệnh điều hành được lan tỏa, học sinh nào cũng biết và thực hiện nghiêm túc. Khi nhà trường cần tập trung học sinh thì chỉ cần gõ 3 hồi dài là một lúc sau học sinh đã có mặt đông đủ. Năm học sau, nhà trường đã tổ chức học sinh dựng nhà, làm bếp tạo ra khu ký túc xá để học sinh có chỗ ở để học, học sinh không phải trọ học nữa. Tuy không có chế độ trường nội trú nhưng mọi sinh hoạt của thầy và trò như một trường chuyên nghiệp. Nhà trường quản lý học sinh học theo hiệu lệnh riêng, ngoài các buổi lao động thì học sinh phải lên lớp để học, học chính khóa và tự học. Vì vậy, tuy gian khổ, điều kiện học tập vô cùng thiếu thốn nhưng chất lượng học tập của học sinh vẫn được duy trì và phát triển.
Quan hệ của nhà trường với nhân dân nơi trường đóng thế nào?
Có những kỷ niệm tốt trong quan hệ giữa nhà trường và nhân dân địa phương; nhà trường đã làm tốt công tác dân vận, được nhân dân địa phương đùm bọc che chở và giúp đỡ những lúc khó khăn. Còn nhớ trong năm 1968 có lúc khó khăn, trò hết gạo, thầy giúp đỡ và đến lúc cả thầy cũng hết gạo, thầy và trò đã phải ăn sắn, ăn măng để che lấp những cơn đói bụng. Nhà trường đã đặt vấn đề với hợp tác xã Thôn Cao vay thóc cứu đói cho thầy và trò. Hợp tác xã đã cử người xay giã và cho 10 người gánh mỗi người 2 bung gạo đem vào trường cho thầy và trò vay. Không ai bảo ai, khi thấy như vậy tất cả thầy và trò đã cùng reo lên sung sướng. Xin nhớ rằng, lúc đó nhân dân cũng sống rất gian khổ, thiếu ăn thường xuyên. Vì vậy sự giúp đỡ lúc đó hết sức có ý nghĩa, nhà trường rất biết ơn sự cưu mang đùm bọc của cán bộ và nhân dân địa phương.
Gian khổ và khó khăn là vậy nhưng các em học sinh rất chăm học, tôi còn nhớ năm học 1966-1967 có em Đỗ Minh Thái được công nhận là học sinh giỏi xuất sắc được nhận phần thưởng Bác Hồ, tôi cũng được công nhận là giáo viên giỏi và được nhận phần thưởng Bác Hồ. Học xong cấp 3, em Thái được chọn cử đi học tại Đức. Điều đặc biệt, lượt đó có 3 em, trong đó 2 em là học sinh Hà Nội, nhưng chỉ thi chọn lấy 2 em. Em Thái là 1 trong 2 em được đi lần đó.
Theo thầy thời kỳ nào thầy cho là thuận lợi cho công tác dạy và học?
Thời kỳ của chúng tôi trường có ít lớp, mỗi lớp cũng có ít học sinh, đặc biệt số học sinh là dân tộc ít người cũng rất ít; đội ngũ giáo viên cũng không nhiều, mỗi môn chỉ có 1 người, riêng môn toán và văn thì có 2 người, cả trường có khoảng 11- 12 giáo viên.
Ngày nay trường lớn hơn rất nhiều, số học sinh và số CB, GV cũng nhiều; Sự mở rộng thông tin có mặt hay là giúp mọi người hiểu biết nhiều hơn nhưng chi phối đến nỗ lực học tập của học sinh cũng rất phức tạp. Tuy vậy, điều kiện dạy và học tập tốt hơn, nhà cửa, lớp học khang trang hơn.
Đề nghị thầy kể một vài kỷ niệm trong đội ngũ giáo viên trong thời kỳ gian khổ này?
Trong gian khó và thiếu thốn mọi thứ, chúng tôi sống với nhau rất tình nghĩa, có kỷ niệm tôi không bao giờ có thể quên được, đó là năm học 1967-1968 ở nơi sơ tán, nhà trường có đào được một cái ao, theo thầy Nguyễn Xuân Triêm, giáo viên dạy sinh vật thì nên thả cá, thế là thầy Triêm vào Nghĩa Lộ mua cá giống, tự thầy mua và gánh 2 thúng cá giống về, đi bộ hơn 50 km, về đến trường đã nửa đêm, mọi người rất xúc động và cảm phục. Cá trong ao này sau này đã phần nào giúp thầy và trò có bữa ăn tươi hơn. Cô Hoàng Thiện giáo viên dạy Lịch sử, sinh con đầu lòng, đau bụng các thầy giáo trẻ đã khiêng cáng cô đi trạm xá, nhưng mới đi được 1 đoạn thì đứa con cô đã chào đời, các thầy hết sức lúng túng không biết làm thế nào, thầy Trần Quang Khang đã nhanh nhẹn lục tìm trong hòm thiết bị dạy học vật lý lấy được 1 cái kéo và cắt rốn cho cháu bé, mẹ tròn con vuông, an toàn và các thầy lại tiếp tục đưa cô Thiện tới trạm xá.
Sau khi về Hà Nội thầy công tác ở cơ quan nào?
Sau khi ở trường cấp 3 Nghĩa Lộ tháng 10/1969 tôi về công tác ở ty giáo dục Nhĩa Lộ, năm 1976 sát nhập 3 tỉnh Nghĩa Lộ, Yên Bái và Lào Cai thành lập tỉnh Hoàng Liên Sơn, tới năm 1977 tôi về Hà Nội. Lúc đầu công tác ở Ban GD dân tộc- Bộ Giáo dục. Sau này, khi GS-TSKH Hồ Ngọc Đại mở chương trình thực nghiệm về công nghệ GD, có xin tôi về Viện khoa học giáo dục, làm trợ lý cho Ông để xây dựng Trung tâm thực nghiệm GD, sau này gọi là Trung tâm công nghệ GD, khi đó tôi làm làm Phó Giám đốc trung tâm, tôi về hưu từ 31/12/1992.
Khi nghỉ hưu, thầy có những mối quan hệ rất tốt với những giáo viên từng công tác ở Nghĩa Lộ và những học sinh cấp 3 nghĩa Lộ hiện nay dang ở Hà nội?
Từ năm 1984 Anh Tăng Hữu Hồng và một số anh chị khác đã có sáng kiến tổ chức họp mặt những giáo viên đã công tác ở Nghĩa Lộ nay đang ở Hà Nội, tôi được anh em bầu làm Chủ tịch Hội cứu giáo chức Nghĩa Lộ tại Hà nội. Tới nay đã tổ chức gặp mặt tất cả anh em giáo viên đã từng công tác tại Nghĩa Lộ và hiện nay đang sinh sống hoặc nghỉ hưu tại Hà Nội được 26 lần.
Còn Học sinh, từ năm 1992 có một số học sinh cũ như các anh chị: Vũ Dũng Tiến, Đinh Thị Kim Xuyến, Đỗ Văn Chỉnh, Nguyễn Ngọc Thanh,… đã xúc tiến tổ chức họp mặt học sinh cấp 3 Nghĩa Lộ tại Hà Nội. Từ đó tôi có tham gia với các em, và duy trì từ đó đến nay. Hiện nay, có khoảng hơn 100 học sinh tham gia sinh hoạt nhóm này.
Hiện nay cuộc sống của thầy có vui buồn gì khi nghĩ lại thời gian công tác?
Được nghỉ hưu từ năm 1993, tối rất thanh thản.
Học sinh cũ thường xuyên đến thăm, đây chính là phần thưởng lớn nhất, quý nhất của người thầy. Khi anh nghỉ, không còn làm việc nữa mà vẫn có học sinh nhớ đến thì còn hạnh phúc nào bằng.
Thầy có nhắn nhủ gì đối với các thày cô giáo và học sinh của trường THPT Nghĩa Lộ hiện nay?
Tôi đã cùng nhiều anh chị em giáo viên cống hiến quãng đời tuổi thanh xuân của mình cho sự nghiệp giáo dục miền núi nói chung cũng như sự phát triển giáo dục của trường cấp 3 Nghĩa Lộ nói riêng. Chúng tôi đã góp phần đào tạo nhiều thế hệ học sinh trưởng thành và ra trường, trong đó có nhiều học sinh tiêu biểu đã đóng góp công sức xây dựng và bảo vệ đất nước; Nhiều học sinh của trường đã trở thành những người lãnh đạo giữ cương vị chủ chốt trong các cơ quan của Đảng và Nhà nước hoặc trong các tổ chức quần chúng ở các cấp.
Một lần gặp lại Học sinh Đỗ Minh Thái, em có hỏi tôi: Tại sao hồi đó điều kiện sống và học tập của thầy và trò rất thiếu thốn và gian khổ như vậy mà các thầy đã dạy, đào tạo được nhiều học sinh giỏi thế; các thầy dạy chúng em không có gì nhiều mà sao chất lượng lại tốt như vậy.
Tôi trả lời: Lúc đó các thầy cũng chưa phải là thầy giỏi; học sinh cũng chưa phải là học sinh giỏi xuất sắc nhưng lúc đó các em học thật, các thầy cũng dạy thật nên kết quả là thật. Các em đã tiếp thu được vốn kiến thức và cách học mà các thầy đã cung cấp, đó là cơ sở để các em tự học, tự ôn và đạt được kết quả tốt. Nhưng phải nói rằng, lúc đó các thầy say sưa nghiên cứu, giảng dạy, tất cả vì học sinh; còn học sinh, có lẽ được tôi luyện trong gian khổ nên rất có nghị lực, rất chăm học do đó có kết quả học tốt.
Tháng 10/2006, nhân dịp về dự lễ kỷ niệm 45 năm thành lập nhà trường, tôi đã tâm sự với các thầy giáo và học sinh của trường là: Không cần phải ghê gớm lắm, xuẩt sắc lắm nhưng kiến thức nắm phải rất chắc và rất cơ bản thì sẽ có kết quả tốt.
Hãy phát huy truyền thống của trường cấp 3 Nghĩa Lộ là dạy tốt-học tốt thật sự và đoàn kết, thương yêu nhau hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.Đỗ Hữu Chỉnh @ 08:31 20/04/2011
Số lượt xem: 587
Các ý kiến mới nhất